Đi tìm “thủ phạm” khiến Việt Nam bị xem xét hạ mức tín nhiệm – duancanhodatxanh.com


Ads_ngang
Website bất động sản pci duanempirecitycomplex.com lĩnh vực mua bán cho thuê căn hộ, bất động sản nhà đất có bài Đi tìm “thủ phạm” khiến Việt Nam bị xem xét hạ mức tín nhiệm – duancanhodatxanh.comCafeLand – Mới đây, Bộ Tài chính cho biết Tổ chức xếp hạng tín nhiệm Moody’s Investors Service (Moody’s) vừa xem xét hạ mức xếp hạng tín nhiệm quốc gia của Việt Nam. Kéo theo đó, Moody’s cho biết 17 ngân hàng của Việt Nam có thể bị đánh giá hạ mức tín nhiệm. Thông tin này đã làm cho không ít nhà đầu tư và lãnh đạo nhà nước lo lắng.
CafeLand – Mới đây, Bộ Tài chính cho thấy Tổ chức xếp hạng tín nhiệm Moody’s Investors Service (Moody’s) vừa coi xét hạ mức xếp thứ hạng tin tưởng quốc gia của Việt Nam. Kéo theo đó, Moody’s cho thấy 17 ngân hàng của Việt Nam có thể bị đánh giá hạ mức tín nhiệm. Thông tin này đã làm cho không ít nhà đầu tư và lãnh đạo chính phủ lo lắng.

Hệ số tin tưởng là gì?

Trên thị trường tài chính, để đánh giá mức độ không may của các khoản vay nợ thông qua trái phiếu hoặc tín dụng của các tổ chức như quốc gia hoặc doanh nghiệp thì nhà đầu tư hay người cho vay thường căn cứ vào hệ số tín nhiệm. Theo đó, hệ số tin tưởng quốc gia hoặc doanh nghiệp là chỉ số phản ánh khả năng và sự sẵn sàng trả lại đúng hạn tiền gốc, lãi trong tương lai đối với danh mục nợ của một quốc gia hoặc doanh nghiệp.

Riêng đối với trường hợp doanh nghiệp hoạt động ở một quốc gia thì hệ số tin tưởng bị ảnh hưởng bởi hệ số tín nhiệm quốc gia và cả bản thân doanh nghiệp.

Mỗi tổ chức xếp thứ hạng tin tưởng đều có cách thức đánh giá, xếp hạng riêng. Tuy nhiên, nhìn chung các cách thức đánh giá xếp hạng tín nhiệm đều dựa theo những nhân tố bộc lộ sự sẵn sàng và khả năng người vay trong việc thi hành đầy đặn và đúng hạn các nghĩa vụ nợ.

Tín nhiệm quốc gia lệ thuộc tình hình kinh tế, chu kỳ chính trị, kinh tế và các yếu tố liên quan tới chừng độ linh hoạt của chủ trương tiền tệ và tài khóa. Mức tin tưởng của doanh nghiệp lệ thuộc vào tin tưởng quốc gia doanh nghiệp đó hoạt động, tình hình tài chính doanh nghiệp và mức độ sáng tỏ các tin tức trong báo cáo.

Hiện nay, Việt Nam được hơi nhiều tổ chức định mức tín nhiệm lớn trên toàn cầu quan tâm xếp hạng. Trong đó, nổi bật là các tổ chức như Moody’s, Standard & Poors (S&P), Fitch Ratings (Hoa Kỳ), R&I (Nhật Bản)… Đây là những tổ chức cung cấp dịch vụ định mức tin tưởng cho những quốc gia và doanh nghiệp.

Trước đây, Việt Nam thuê các tổ chức định mức tin tưởng xếp thứ hạng để huy động trái phiếu bằng ngoại tệ trên thị trường quốc tế. Lợi suất trái phiếu Việt Nam niêm yết cũng thường biến động theo mức tín nhiệm của Việt Nam. Nhiều ngân hàng và doanh nghiệp của Việt Nam cũng thuê các tổ chức định mức tin tưởng đánh giá để làm cơ sở ban hành trái phiếu trên thị trường quốc tế.

Hiện nay, các tổ chức này đều đang xếp thứ hạng tin tưởng Việt Nam là ổn định (Stable) và tích cực (Positive) tương ứng với khoảng là BB. Riêng hệ thống tín nhiệm của Moody’s đánh giá tin tưởng quốc gia Việt Nam là Ba3. Mức tin tưởng này còn có nghĩa chừng độ không may dài hạn là đáng kể. Lần thay đổi mức tín niệm của Việt Nam gần đây nhất là vào tháng bốn năm 2019 khi S&P nâng mức tín nhiệm Việt Nam từ mức BB- lên BB với triển vọng “ổn định”.

Tại sao Moody’s lại coi xét hạ mức tín nhiệm Việt Nam?

Nguyên nhân khiến Moody’s coi xét hạ bậc xếp thứ hạng tín nhiệm bắt nguồn từ đánh giá cho rằng, thời gian qua Chính phủ Việt Nam đã có nhiều hạn chế trong công tác phối hợp giữa các cơ quan Chính phủ dẫn đến tình trạng chậm phải trả nghĩa vụ nợ Chính phủ. Trong khi đó, Bộ Tài chính cho rằng đây là nghĩa vụ nợ được Chính phủ bảo lãnh, không phải là nghĩa vụ nợ trực diện của Chính phủ.

Do đó, Bộ Tài chính khẳng định việc Moody's đưa Việt Nam vào diện xem xét để hạ bậc chỉ dựa theo một sự việc riêng lẻ là không phù hợp. Bên cạnh đó, Bộ Tài chính cũng khẳng định, Chính phủ chưa một lần chậm trễ trong thi hành nghĩa vụ trả nợ của Chính phủ. 

Như vậy, căn cứ để Moody’s coi xét hạ tín nhiệm Việt Nam không cần là các nhân tố kinh tế vĩ mô như trước đây. Trên thực tế, kinh tế vĩ mô của Việt Nam trong thời gian gần đây khá ổn định với việc tăng trưởng GDP quý iii lên đến 7,31%, tính chung 9 tháng tăng 6,98% mức đỉnh cao trong 9 năm gần đây. Bên cạnh GDP thì những chỉ số kinh tế vĩ mô khác của Việt Nam cũng tương đối tốt. Lạm phát trong 9 tháng chỉ tăng 2,5% và tỷ giá cũng không nhiều biến động.

Đặc biệt, trong 9 tháng vừa qua, thặng dư cán cân thương mại của Việt Nam lên đến 5,9 tỉ USD. Việt Nam đang có mức dự phòng ngoại hối cao nhất lịch sử, vượt 71 tỉ USD. Do đó khả năng thanh toán nợ nần bằng ngoại tệ của Việt Nam cũng khá tốt. Như vậy, rõ rệt rủi ro về vĩ mô hoặc thanh khoản của Việt Nam đang ở mức thấp. Đây cũng chính là nguyên do S&P nâng một bậc mức tín nhiệm của Việt Nam vào tháng 4 vừa qua.

Tuy nhiên, theo các chuyên gia, việc Moody’s coi xét hạn tín nhiệm Việt Nam không phải là không có cơ sở. Theo báo cáo của Chính phủ đến cuối năm 2018, tổng giá trị các khoản vay được Chính phủ bảo hộ lên tới 27,7 tỉ USD, trong đó 23,6 tỉ USD vốn vay nước ngoài. Đây là số lượng lớn hơn tổng thanh toán nợ nần Chính phủ của Việt Nam trong năm 2018.

Báo cáo cũng cho biết, nhiều dự án được Chính phủ bảo lãnh do khó khăn về tài chính dường như không có khả năng trả nợ, đang phải thanh lý tài sản để thu hồi vốn hoặc là phải tái cơ cấu do nợ quá hạn cao.

Trong đó, nợ nước ngoài do Chính phủ bảo hộ tập trung chủ đạo cho đầu tư vào ngành điện tại một số tập đoàn lớn, như Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), Tập đoàn Dầu khí Quốc gia (Petro Vietnam) và Tập đoàn Công nghiệp Than khoáng vật (TKV-Vinacomin). Trong đó, EVN chiếm tỷ trọng thật to lớn trong nghề điện, chiếm 58,43%, tổng bảo lãnh trong lĩnh vực, tương đương khoảng 10 tỉ USD.

Ngoài lĩnh vực điện, Chính phủ cũng bảo lãnh cho các doanh nghiệp hàng không giống như Tổng công ty Hàng không Việt Nam vay nợ 1,03 tỉ USD, Công ty cổ phần Cho thuê Máy bay vay nợ 297,4 triệu USD.

Vay vốn bảo hộ Chính phủ đã lên tới 27,7 tỷ USD

Hiện nay, nhiều dự án vay nợ nước ngoài do Chính phủ bảo lãnh khả năng thanh toán nợ nần không dễ khăn. Các dự án phải kể đến như nhà xưởng Giấy Phương Nam, dự án BT Đường cao tốc La Sơn – Túy Loan, như dự án Xi măng Thái Nguyên, Xi măng Đồng Bành, Xi măng Hạ Long. Hiện, Chính phủ phải trích hàng trăm triệu USD từ Quỹ Tích lũy thanh toán nợ nần để trả nợ thay cho những dự án này.

Việt Nam sẽ ảnh hưởng làm sao nếu bị hạ mức tín nhiệm?

Trong thông cáo của mình, Bộ Tài chính bày tỏ quan ngại việc hạ mức tin tưởng của Việt Nam cũng đều có thể ảnh hưởng đến uy tín và hình ảnh quốc gia của Việt Nam trên trường quốc tế. Trên thực tế, việc hạ mức tín nhiệm chắc chắn ảnh hưởng không nhỏ đến chi phí vốn của doanh nghiệp và Chính phủ Việt Nam khi vay vốn.

Thật vậy, khi đầu tư vào trái phiếu hoặc cho vay vốn thì những nhà đầu tư xác định lợi suất yêu cầu theo mức tín nhiệm của quốc gia và doanh nghiệp. Quốc gia có mức tin tưởng càng thấp thì nhà đầu tư sẽ yêu cầu lãi suất khi đầu tư càng cao để bù đắp lại rủi ro đó.

Chẳng hạn với mức tin tưởng là Ba3 hiện nay thì mức bù không may quốc gia của Việt Nam đối với trái phiếu hay các khoản cho vay đối với Chính phủ hoặc doanh nghiệp là 3 điểm phần trăm. Nói cách khác, nếu Chính phủ Việt Nam phát hành trái phiếu nước ngoài thì lãi suất trái phiếu bằng đồng USD bị nhà đầu tư yêu cầu cao hơn so với lãi suất trái phiếu Chính phủ Mỹ (cùng kỳ hạn) là 3 điểm phần trăm.

Khi Moody’s hạ mức tin tưởng của Việt Nam 1 bậc, thì lãi suất đòi hỏi sẽ tăng thêm 0,5 điểm phần trăm. Điều này cùng nghĩa với kinh phí kêu gọi đầu tư của doanh nghiệp ở Việt Nam và Chính phủ sẽ tăng tương ứng

Thực tế, cùng theo với việc coi xét hạ mức tín nhiệm ở Việt Nam thì Moody’s coi xét hạn mức tín nhiệm của 17 ngân hàng của Việt Nam đã được Moody’s xếp hạng trước đó do tin tưởng quốc gia bị hạ. Việc xem xét giảm xếp thứ hạng tin tưởng của các ngân hàng này sẽ không liên quan đến giấy tờ tài chính độc lập của các ngân hàng.

Các ngân hàng được Moody’s coi xét hạ mức tín nhiệm bao gồm:

STT

Ngân hàng

STT

Ngân hàng

1

An Bình Bank

10

SHB

2

ACB

11

TP Bank

3

HDBank

12

Agribank

4

Vietcombank

13

VIB

5

BIDV

14

Vietinbank

6

LienVietPost Bank

15

Maritime Bank

7

MB Bank

16

VPBank

8

Nam Á Bank

17

Techcombank

9

OCB

Như vậy, nếu các ngân hàng này bị hạ mức tin tưởng thì lãi suất các khoản vay, lãi suất trái phiếu các ngân hàng này huy động trên thị trường nước ngoài đều tăng đều khá mạnh. Đây là một ảnh hưởng vô cùng nặng nề với cả hệ thống tài chính Việt Nam. 

Từ khóa bài viết: xep hang tin nhiem,Moody’s,ha muc tin nhiem

Bài viết Đi tìm “thủ phạm” khiến Việt Nam bị xem xét hạ mức tín nhiệm – duancanhodatxanh.com được tổng hợp và biên tập bởi sửa máy tính PCI – PCI Group Mọi ý kiến đóng góp và phản hồi vui lòng gửi Liên Hệ cho chúng tôi để điều chỉnh. Xin cảm ơn.

Bài Viết Liên Quan


Bài Viết Khác


Ads_ngang