Nghị định 20 sẽ gây khó cho doanh nghiệp Việt – duancanhodatxanh.com


Ads_ngang
Website bất động sản pci duanempirecitycomplex.com lĩnh vực mua bán cho thuê căn hộ, bất động sản nhà đất có bài Nghị định 20 sẽ gây khó cho doanh nghiệp Việt – duancanhodatxanh.comCafeLand – Theo các chuyên gia, Nghị định 20 áp dụng chung cho cả doanh nghiệp nước ngoài và Việt Nam với hai chuẩn mực kế toán khác nhau và điều kiện hoạt động khác nhau. Do đó, nếu áp dụng cùng công thức với tỷ lệ tính toán giống nhau sẽ gây khó khăn rất lớn cho các doanh nghiệp liên quan của Việt Nam.
CafeLand – Theo các chuyên gia, Nghị định 20 áp dụng chung cho cả doanh nghiệp nước ngoài và Việt Nam với hai chuẩn mực kế toán không trùng lặp và điều kiện hoạt động khác nhau. Do đó, nếu áp dụng cùng công thức với tỷ suất tính toán trùng lặp sẽ gây khó khăn lớn số 1 cho các doanh nghiệp liên quan của Việt Nam.

Khoản 3 điều 8 Nghị định 20/2017/NĐ-CP của Chính phủ “Quy định về quản lý thuế đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết” quy định “Tổng kinh phí lãi vay phát sinh trong kỳ của người nộp thuế được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp không vượt quá 20% của tổng lợi nhuận thuần từ hoạt động buôn bán cộng với kinh phí lãi vay, kinh phí khấu hao trong kỳ của người nộp thuế”.

Thiệt thòi cho doanh nghiệp Việt

TS. Lê Xuân Nghĩa, thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính tiền tệ quốc gia, phân tích việc quản lý thuế đối với các doanh nghiệp có giao dịch liên kết rất phức tạp và có độ toàn cầu. Nó đã và đang xảy ra không những ở Việt Nam và các nước đang phát triển mà còn khá phổ biến ở các nước hiện đại kể cả Mỹ, châu Âu và Nhật Bản.

Đối tượng quản lý cũng rất phức tạp, kể cả chẳng những các doanh nghiệp vừa và nhỏ mà cả những tập đoàn quốc gia và xuyên quốc gia có hành vi chuyển giá, chuyển chi phí và phân bố doanh thu nhằm giảm doanh thu tính thuế.

“Việc Chính phủ ban hành Nghị định 20 về quản lý thuế đối với các doanh nghiệp có giao dịch liên kết là một bước tiến quan trọng đảm bảo tính sáng tỏ và công bằng của quản lý thuế”, ông Nghĩa nhận định.

Theo ông, Việt Nam chưa xuất hiện điều kiện về pháp lý và phương tiện kỹ thuật để đánh giá chuẩn xác các hoạt động chuyển giá, chuyển chi phí và phân bổ doanh thu của các công ty nước ngoài đang hoạt động ở Việt Nam.

TS. Lê Xuân Nghĩa.

“Khảo sát sơ bộ của chúng tôi ở một vài công ty liên doanh của quốc tế với Việt Nam (dựa vào đối tác Việt Nam để xem xét) cho biết hoạt động này khá phổ biến và nối dài từ rất lâu ở Việt Nam mà chúng ta không có cách nào ngăn chặn. Nó ảnh hưởng không những đến thu thuế của Chính phủ mà cả lợi ích hợp pháp của các bên liên doanh Việt Nam. Nghị định 20/2017 của Chính phủ là công cụ quan trọng để có hạn và ngăn ngừa sự thiếu minh bạch và bất công bằng này”, ông Nghĩa nói.

Tuy nhiên, nghị định này áp dụng chung cho tất cả doanh nghiệp của nước ngoài và doanh nghiệp Việt Nam với hai chuẩn mực kế toán khác nhau và điều kiện hoạt động khác nhau. Nếu áp dụng cùng công thức với tỷ suất tính toán trùng lặp sẽ gây khó khăn lớn số 1 cho những doanh nghiệp liên quan của Việt Nam.

Về kế toán, việc chấp nhận các hóa đơn để hạch toán chi phí và tính thuế cũng khác nhau. Nhìn chung các doanh nghiệp nước ngoài theo chuẩn kế toán nước ngoài (IAS) được chấp nhận đơn giản hơn. Ngoài ra hầu hết các dòng gia tài tài chính của các doanh nghiệp quốc tế theo IAS đều được đánh giá lại theo giá thị trường để tính thuế.

Ngoài ra, các doanh nghiệp nước ngoài cũng đều có quyền chọn lựa các phương pháp tính khấu hao tùy thuộc vào mục tiêu mua bán của mình. Đồng thời cũng có thể có quyền trích lập dự phòng rủi ro cho nhiều loại gia sản nội bảng…

Theo TS. Nghĩa, sự khác biệt này khiến cho chuyện so sánh về doanh thu, về tỷ suất lợi nhuận, doanh thu trở nên rất phức tạp.

Đặc biệt, chuyên gia này cũng cho rằng, tại Điều 8 về xác định chi phí tính thuế trong một số trường hợp cụ thể đối với các doanh nghiệp có giao dịch liên kết đặc trưng cũng cho biết một số vấn đề cần lưu ý.

Cụ thể là, đa số các doanh nghiệp Việt Nam đều có vốn tự có so với vốn vay rất thấp, nhất là các doanh nghiệp mua bán bất động sản.

“Khảo sát của chúng tôi năm 2017 cho thấy tỷ suất vốn tự có trên vốn vay của 500 doanh nghiệp trên sàn chứng khoán chỉ tầm 34%, nếu tính chung cho doanh nghiệp vừa và nhỏ thì tỷ suất này rất thấp. Tỷ lệ này trong khu vực mua bán bất động sản chỉ đạt 25%. Như vậy chi phí tài chính từ những khoản vốn vay rất lớn”, TS. Nghĩa phân tích.

Bên cạnh đó, lãi suất cho vay ở Việt Nam rất cao, thường là gấp đôi, kể cả gấp 2,5 lần các nước trong khu vực và nối dài rất lâu năm và đang có khuynh hướng tăng ổn định, nghĩa là không có khả năng giảm.

Theo TS. Nghĩa, điều ấy làm cho những doanh nghiệp Việt Nam phụ thuộc ngày càng sâu hơn vào vốn vay và làm giảm khả năng tích tụ tài chính hợp pháp trong suốt quá trình kinh doanh. Đây cũng là lý do giải thích vì sao ở Việt Nam không hình thành được các tập đoàn công nghiệp lớn nhờ vào tích tụ tư bản, ngoài trừ một vài tập đoàn hiếm hoi và cũng đã và đang cố gắng để đứng vững lâu dài trên thị trường mà phần lớn từ khu vực bất động sản và ngân hàng.

Ảnh minh hoạ.

Mặt khác, mua bán bất động sản nói chung đều sử dụng chủ yếu vốn vay trung và dài hạn, có lãi suất rất cao, có khuynh hướng tăng mau hơn lãi suất ngắn hạn do các quy chế mới và kiểm soát dùng vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn. Trong điều kiện thị trường trái phiếu doanh nghiệp và cổ phiếu còn rất yếu thì chi phí tài chính sẽ là gánh nặng ngày càng lớn cho doanh nghiệp bất động sản.

Cần có lộ trình phù hợp

Theo tính toán của Hội đồng Tư vấn chủ trương tài chính tiền tệ quốc gia, nếu lãi vay dài hạn trung bình vượt qua con số 12,5%/năm thì buôn bán bất động sản sẽ gặp khó khăn lớn và giá trị gia tăng toàn ngành suy yếu mạnh khiến thị trường này cũng có thể có thể rơi vào tình trạng nguội lạnh dần.

Ông Nghĩa cho rằng, Bộ Tài chính có mục đích là làm ra sao để tăng thu cho ngân sách, vì mục đích quốc gia. Tuy nhiên, xét trong trường hợp Nghị định 20, có thể họ đang phải cân nhắc một số việc.

Thứ nhất, nghị định nên áp dụng cho toàn bộ các doanh nghiệp, cả Việt Nam và FDI hay chưa? Hay chỉ nên áp dụng cho nguyên các doanh nghiệp FDI? Nhưng nếu chỉ áp dụng cho các doanh nghiệp FDI thì có thể Bộ Tài chính sợ sẽ bị kiện. Tức là sẽ không công bằng khi đề ra câu hỏi: tại sao cùng là doanh nghiệp trên thị trường Việt Nam nhưng lại có sự phân biệt, đối xử về thuế như thế.

Thứ hai, trong tình huống Bộ Tài chính chỉnh sửa nghị định theo hướng áp dụng chung cho cả những doanh nghiệp, nhưng không thể thiết kế theo chiều phân biệt để doanh nghiệp Việt Nam có 1 tỷ suất khác so với doanh nghiệp FDI. Nếu cùng tỷ lệ thì doanh nghiệp Việt Nam sẽ thiệt thòi.

“Trên thực tế, Bộ Tài chính hoàn toàn biết các doanh nghiệp FDI có rất nhiều âm mưu để chuyển giá, tăng chi phí để giảm thuế phải nộp, mà phương thức được đưa ra trong nghị định đây là chủ đạo. Bởi khi doanh nghiệp FDI giải ngân, 88% họ giải ngân bằng máy móc, thiết bị; giải ngân bằng tiền mặt chỉ chiếm 12%. Như vậy chứng tỏ, ngay giá thiết bị cũng có thể có thể bị tính cao; thứ hai là họ vay nguồn vốn lưu động từ công ty mẹ với lãi suất rất cao. Đó là hai phương thức chủ chốt để FDI gian lận về thuế tại Việt Nam”, ông Nghĩa cho biết.

Ngoài ra, theo anh Nghĩa, cũng có thể Bộ Tài chính đang cực khó xử ở một điểm nữa. Đó là nếu sửa nghị định theo hướng giảm tỷ suất như làm sao đó để cho các doanh nghiệp Việt Nam chấp nhận được thì lại có lợi cho doanh nghiệp nước ngoài. Nếu để như hiện nay thì lại có hại cho doanh nghiệp Việt Nam.

“Nên chăng Bộ Tài chính có thể coi xét và có lộ trình thích hợp để bổ trợ các doanh nghiệp nội địa trong môi trường cạnh tranh khốc liệt hiện nay”, ông Nghĩa đề xuất. 

Từ khóa bài viết: TS. Lê Xuân Nghĩa,Nghi dinh 20

Bài viết Nghị định 20 sẽ gây khó cho doanh nghiệp Việt – duancanhodatxanh.com được tổng hợp và biên tập bởi sửa máy tính PCI – PCI Group Mọi ý kiến đóng góp và phản hồi vui lòng gửi Liên Hệ cho chúng tôi để điều chỉnh. Xin cảm ơn.

Bài Viết Liên Quan


Bài Viết Khác


Ads_ngang